Số 01-2012

XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI HÀNG THỦY SẢN TIÊU THỤ NỘI ĐỊA
Bản tin chuyên đề/Phần III
III.2. Các dự án và hoạt động hỗ trợ XTTM đối với hàng thủy sản tiêu thụ nội địa

Thứ Ba, 22/05/2012, 09:45 (GMT+7)

Vai trò của khu vực công cộng là hỗ trợ và tạo điều kiện cho khu vực thương mại (kể cả trong sản xuất, chế biến, lưu thông) chứ không phải là tập trung kinh doanh.
Sự hỗ trợ của khu vực công cộng nhằm tạo điều kiện, tạo ra một sân chơi có sức hấp dẫn cao, bình đẳng, được tổ chức tốt theo hướng văn minh hiện đại. Do vậy, có thể nghiên cứu thực hiện 10 dự án dưới đây:
Dự án 1: Xây dựng cơ chế chính sách huy động nguồn tài lực và động viên những người tâm huyết với sự nghiệp XTTM hàng thủy sản tiêu thụ nội địa
Nhà nước mong muốn phát triển ngành thủy sản như một ngành kinh tế nông nghiệp góp phần chuyển đổi kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, xóa đói giảm nghèo và nâng cao hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp và nông thôn. Để phát triển ngành thủy sản thị trường đóng vai trò quan trọng nhất. Xúc tiến thương mại thủy sản trên thị trường nội đia nhằm mở rộng thị trường một cách bền vững.
Mục đích và mục tiêu của dự án này là tạo cho việc xúc tiến thương mại đối với hàng tiêu thụ nội địa một thế danh chính, trở thành quốc sách trong sự nghiệp phát triển ngành thủy sản ở Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể của dự án này là xây dựng các nguyên tắc vận hành để chỉ đạo các hoạt động xúc tiến thương mại thủy sản trong tương lai, phân định rõ ràng các hoạt động của khu vực công cộng và khu vực thương mại. Đồng thời nâng cao nhận thức ở mọi cấp trong hệ thống quản lý và thương mại nghề cá về XTTM thủy sản làm cho họ nắm vững các quy tắc, nội dung và luật lệ trong kinh doanh hàng thủy sản tiến hành tăng cường các quy định hướng dẫn chức năng hoạt động xúc tiến thương mại thủy sản ở mọi địa phương và mọi cấp
Hoạt động chính của dự án này là xây dựng một nghị định của Chính phủ về chính sách đối với phát triển XTTM ngành thủy sản bao gồm cơ chế huy động vốn, chính sách thuế,... đối với các hoạt động xúc tiến thương mại hàng thủy sản trên thị trường nội địa.
Cục Chế biến và Thương mại Nông – Lâm- Thủy sản và ngành muối có thể thực hiện hoạt động này, chuẩn bị cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn soạn thảo trình Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trình Chính phủ ban hành vào quý III năm 2012
Dự án 2: Xây dựng hệ thống tổ chức và thể chế, lập trung tâm dữ liệu hỗ trợ doanh nghiệp; tư vấn về xúc tiến thương mại, tạo ra sự liên kết, phối hợp giữa các tổ chức XTTM hàng thủy sản tiêu thụ nội địa của các địa phương, các ngành hàng, các tổ chức thương mại
Để hoạt động xúc tiến hàng thủy sản có bài bản, quy củ và có hiệu quả hơn cần nhanh chóng hình thành bộ phận thực hiện chuyên trách xúc tiến thương mại thủy sản ở Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn.
Phòng thương mại trực thuộc Cục Chế biến và Thương mại nông lâm thủy sản và ngành muối thuộc Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn, giúp Cục này thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xúc tiến thương mại chuyên sâu hơn đối với hàng thủy sản. Phòng chuyên trách XTTM thủy sản sẽ có các bộ phận chuyên môn phụ trách xúc tiến thương mại xuất khẩu và xúc tiến thương mại trong nước.
Phòng chuyên trách XTTM thủy sản có nhiệm vụ và quyền hạn chủ yếu sau:
1. Tham mưu cho Cục Chế biến và Thương mại nông lâm thủy sản và ngành muối thuộc Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn định hướng công tác xúc tiến thương mại: xây dựng hoặc phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại Bộ Công thương và Tổng cục Thủy sản tham gia xây dựng chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật về xúc tiến thương mại thủy sản để trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy trình, quy phạm, quy chuẩn về xúc tiến thương mại hàng thủy sản, theo dõi, xem xét và đóng góp ý kiến vào các văn bản về vấn đề xúc tiến thương mại do ngành thủy sản và Công thương đề xuất, kiểm tra việc thực hiện các quy định trên sau khi được duyệt theo sự phân công của Cục trưởng Chế biến và Thương mại nông lâm thủy sản và ngành muối thuộc Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn.
2. Xây dựng một kế hoạch chiến lược, thời gian và chiến lược cụ thể cho việc hỗ trợ xúc tiến thương mại thủy sản nội địa.
3. Cùng với các cơ quan chịu trách nhiệm về thương mại hàng thủy sản, nghiên cứu, dự báo và định hướng về thị trường trong nước và ngoài nước để phát triển thị trường và sản phẩm thủy sản.
4. Thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp thông tin thương mại thủy sản.
5. Hỗ trợ các doanh nghiệp công tác xúc tiến thương mại thủy sản.
6. Tăng cường thể chế và xây dựng năng lực để hỗ trợ có hiệu quả việc xúc tiến thương mại đối với hàng thủy sản nội địa, bao gồm các hoạt động sau :
 - Xây dựng những nguyên tắc và hướng dẫn xây dựng những kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực cho việc thực hành xúc tiến thương mại hàng thủy sản;
 - Đánh giá, phân tích thị trường, đánh giá hoạt động kinh doanh hướng cơ hội đầu tư vào những lĩnh vực sản phẩm thủy sản có nhu cầu, hướng người tiêu dùng vào việc sử dụng các sản phẩm thủy sản mong muốn được phát triển;
 -  Soạn thảo các phương án xúc tiến thương mại hàng thủy sản;
 - Xây dựng các mối liên kết trong khai thác nguồn hàng thủy sản phục vụ cho các thị trường khác nhau;
 - Hướng dẫn kỹ năng tổ chức khuyến mại và quảng cáo trên các thị trường thủy sản khác nhau.
Mỗi tỉnh và thành phố có thể thành lập phòng hay bộ phận xúc tiến thương mại thủy sản tại các Trung tâm Xúc tiến Thương mại - Đầu tư của tỉnh hoặc thành phố đó.
    Thiết lập đại diện của cơ quan xúc tiến thương mại thủy sản ở tất cả các trung tâm mua bán thủy sản để thu thập số liệu thống kê và để kiểm tra bắt buộc tuân thủ theo những nguyên tắc và quy định sẽ được thiết lập để đảm bảo cho việc kinh doanh sản phẩm thủy sản văn minh, hiệu quả, tuân theo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.
Một hoạt động khác của dự án này là xây dựng các tiêu chuẩn phải được áp dụng cho thị trường thủy sản nội địa. Tổng cục Thủy sản và các sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn phải có trách nhiệm xây dựng các tiêu chuẩn và giám sát việc thiết lập các điều kiện vật chất và thực hiện các chức năng bắt buộc để đảm bảo sự tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm thủy sản trong kinh doanh sản phẩm thủy sản.
Nhu cầu hỗ trợ cho việc tăng cường thể chế cho xúc tiến thương mại đối với hàng thủy sản nội địa ở các cấp khác nhau. Các hoạt động của tiểu dự án này sẽ được thiết lập theo một cơ cấu có thể hỗ trợ cho các nhu cầu đa dạng đó. Vì vậy, có thể đưa những nhu cầu về thể chế ở cấp tỉnh, thậm chí cấp huyện vào các hoạt động chung của ngành thủy sản và ngành nông nghiệp phát triển nông thôn.
Các hoạt động của dự án này không những chỉ cần đến sự hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, nó rất cần đến các hỗ trợ kỹ thuật cũng như tài chính từ bên ngoài, đặc biệt từ các tổ chức quốc tế và các cơ quan phát triển hải ngoại của các nước phát triển.
Dự án 3: Thành lập Quỹ Xúc tiến thương mại hàng thủy sản tiêu thụ nội địa
Để có nguồn ngân sách luôn sẵn sàng cho những hoạt động hỗ trợ thương mại hàng thủy sản tiêu thụ nôi địa nhất thiết phải có một quỹ riêng dành cho công việc này. Quỹ huy động sự đóng góp tài chính từ các nguồn trong xã hội để hỗ trợ cho việc xúc tiến thương mại thủy sản:
Một phần, hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước thông qua ngân sách dành cho xúc tiến thương mại hàng năm do Bộ công thương phân bổ, một phần huy động sự đóng góp của các doanh nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hàng thủy sản, các dự án ODA của nước ngoài hoặc của các tổ chức NGO quốc tế (tổ chức phi chinh phủ).
 Quỹ chịu sự quản lý nhà nước của Bộ NN-PTNT, hoạt động theo nguyên tắc tự tạo vốn, tự trang trải hoạt động. Quỹ Xúc tiến thương mại hàng thủy sản cho tiêu dùng nội địa có thể giao cho một bộ phận độc lập đặt dưới sự giám sát của Tổng cục Thủy sản hoặc Hội Nghề cá Việt Nam.
Quỹ này nên được thành lập sau khi có Quyết định của Chính phủ về các cơ chế chính sách đối với xúc tiến thương mại hàng thủy sản tiêu thụ trên thị trường nội địa.
Quỹ được thành lập để tạo nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và phát triển công tác xúc tiến thương mại hàng thủy sản nói chung và hàng thủy sản cho tiêu dùng nội địa nói riêng nhằm nâng cao sức cạnh tranh và quảng bá sự phát triển của thủy sản Việt Nam. Một phần kinh phí của quỹ cũng được trích lập để tổ chức tuyên dương, khen thưởng các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có thành tích quảng bá rộng rãi hàng thủy sản trên thị trường nội địa.
Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ra quyết định thành lập, quy định nhiệm vụ, quyền hạn, bộ máy tổ chức, chỉ đạo và điều hành các hoạt động để phối hợp với cơ quan nhà nước trong việc thanh tra, kiểm tra theo quy định của pháp luật.
Trong phát triển và quản lý Quỹ Xúc tiến thương mại thủy sản cần lưu ý:
- Thứ nhất, do đa số các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh hàng thủy sản Việt Nam là loại vừa và nhỏ, Nhà nước nên nới rộng mức hỗ trợ ngân sách để tăng nhanh nguồn lực tài chính cho việc xúc tiến thương mại hàng thủy sản khuyến khích phát triển ngành thủy sản như một định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn quan trọng.
- Thứ hai, các nội dung, mức và quy trình hỗ trợ tài chính cho hoạt động xúc tiến thương mại hàng thủy sản tiêu thụ trong nước cần linh hoạt.
Đối tượng chi từ Quỹ là rất rộng, bao phủ hầu hết các khía cạnh của nội dung hoạt động xúc tiến thương mại đã trình bày ở mục II.2 và các hoạt động cần ưu tiên được trình bày ở mục III.1.
   Cần mở rộng đối tượng chi của Quỹ cho các hoạt động của các doanh nghiệp, trang trại và hộ nông dân, ngư dân khai thác và nuôi trồng thủy sản cũng như các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh mặt hàng này, đặc biệt đối với các doanh nghiệp kinh doanh, chế biến các mặt hàng thủy sản truyền thống.
      Đặc biệt, nên loại bỏ các quy định kiểu can thiệp quan liêu vào quy trình quản lý Quỹ.  Ban điều hành quỹ cần được toàn quyền chủ động và linh hoạt cấp kinh phí cho mọi hoạt động nghiên cứu và hoạt động quảng bá, xúc tiến thương mại nào mà mình thấy cần thiết và không thuộc phạm vi hoạt động bị cấm bởi pháp luật có liên quan.
- Thứ ba, cần khuyến khích mở rộng phối hợp hoạt động giữa các loại Quỹ xúc tiến thương mại đối với các ngành hàng khác nhau trong ngành nông nghiệp quốc gia và địa phương.
Sự cần thiết tăng cường phối hợp hoạt động giữa các loại quỹ này là do sự hạn chế của mỗi loại quỹ cả về quy mô, nguồn vốn (nhất là trang trại và hộ gia đình), tính chất và phạm vi hoạt động… Đồng thời, còn do tính đa dạng và gắn kết, bổ sung và thống nhất về mục tiêu chung với nhau trong sử dụng các sản phẩm thực phẩm và nông nghiệp dù cấp quốc gia hay địa phương, giữa những người sản xuất, chế biến và kinh doanh .
Sự phối hợp giữa các quỹ cần được mở rộng và thông qua nhiều hình thức đa dạng, linh hoạt, như:
+ Cùng tài trợ và chia sẻ lợi ích cho một hoạt động xúc tiến thương mại của ngành hàng hay địa phương;
+ Tài trợ để thực hiện các đăng ký bản quyền, thương mại hóa và quốc tế hóa, cũng như bảo hộ trong tranh chấp thương mại.
- Thứ tư, phòng tránh các lạm dụng trong hoạt động của quỹ.
       Càng linh hoạt trong việc sử dụng quỹ càng cần phải quy định chặt chẽ trong điều lệ hoặc quy chế quản lý tài chính của quỹ, nhất là các quy định về các nội dung và quy trình kế toán quản trị, kế toán tài chính về quỹ. Để phòng tránh các hiện tượng lạm dụng quỹ cho các mục tiêu trốn thuế có thể xảy ra, các khoản chi từ quỹ phải có đầy đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật. Không được hạch toán các khoản chi cho hoạt động khác ngoài các hoạt động xúc tiến thương mại vào chi phí của quỹ.
Hàng năm, doanh nghiệp phải lập báo cáo trích, sử dụng quỹ và kê khai mức trích lập, số tiền trích lập, tổng hợp vào tờ khai quyết toán hàng năm của quỹ.
Việc giám sát của cơ quan quản lý nhà nước đối với việc quản lý sử dụng quỹ xúc tiến thương mại không nhằm mục tiêu tăng thu ngân sách hoặc hoạt động “cải thiện” cho cán bộ, công nhân viên quản lý hoặc chi dùng vào mục đích quản lý. Ngược lại, thông qua công tác giám sát của cơ quan quản lý mà thúc đẩy mọi hoạt động nghiên cứu và phát triển xúc tiến thương mại hàng thủy sản.
      Dự án 4: Khảo sát tổng thể hiện trạng về cơ sở hạ tầng cho XTTM, hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh hàng thủy sản nội địa lớn ở các vùng có điều kiện khảo sát, tìm kiếm thị trường ở các vùng khác trong nước
Sản phẩm thủy sản kể cả sản phẩm khai thác và sản phẩm nuôi trồng hiện được cất bến và buôn bán tại rất nhiều địa điểm chợ và bến cá của Việt Nam. Chỉ có một số rất ít bến cá có các phương tiện phù hợp dễ dàng cho việc thực hiện giao thương buôn bán hàng thủy sản và đảm bảo các điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, do chịu ảnh hưởng của thói quen tiểu nông trong kinh doanh hàng thủy sản, hiện không cơ quan và địa phương nào nắm được tình hình thực tế, tình trạng cơ sở hạ tầng cũng như tổ chức trật tự việc buôn bán hàng hóa thủy sản như thế nào. Việc nghiên cứu và thống kê tình trạng thương mại thủy sản, nhất là đối với việc buôn bán thủy sản nội địa bị bỏ trống, chưa bao giờ được nghiên cứu và quản lý. Không ai nắm được thực chất số lượng hàng thủy sản và số lượng các loài, các sản phẩm ở các chợ cá, các trung tâm bán buôn bán lẻ hàng ngày để cung cấp cho hệ thống thương mại tính toán khả năng thu mua, vận chuyển tới các trung tâm tiêu thụ và các địa chỉ tiêu dùng. Cũng do sự bỏ ngỏ đó mà không thể thiết lập được mạng lười và hệ thống thông tin giá cả và cạnh tranh khiến cho thị trường hàng thủy sản trở nên mờ mịt và làm cho cả người mua và người bán đều chịu thiệt thòi.
Mục tiêu cụ thể của dự án này là nắm được thực chất và những yêu cầu đặt ra đối với công tác xúc tiến thương mại hàng thủy sản tiêu thụ nội địa.
Vì vậy, hoạt động cụ thể của dự án này là :
1. Tổ chức điều tra thống kê tổng thể toàn bộ các trung tâm mua bán, chợ cá, làng cá, tụ điểm nghề cá, tụ điểm chế biến thủy hải sản trong toàn quốc.
2. Tiến hành đánh giá toàn diện và chi tiết đồng thời xác định nhu cầu về các phương tiện buôn bán, tiếp thị tại các trung tâm thương mại, các chợ cá, bến cá và các thành phố;
3. Đánh giá tổng thể hoạt động buôn bán hàng thủy sản trên toàn quốc kể cả đối với các sản phẩm khai thác, chế biến truyền thống và hiện đại và đối với các mặt hàng phổ biến, các giống loài phổ biến.
4. Khảo sát đánh giá các hệ thống kinh doanh thủy sản tươi sống, bao gồm tất cả các khâu của hệ thống này từ sản xuất khai thác, nuôi trồng đến lưu giữ, vận chuyển, cơ sở hạ tầng bán lẻ,...
5. Khảo sát, đánh giá các sản phẩm thủy sản mang tính truyền thống của người Việt trong cả nước, khảo sát thị hiếu tiêu dùng thủy sản của từng vùng  miền, địa phương, khảo sát cách chế biến và sử dụng hàng thủy sản ở từng địa phương;
6. Khảo sát cơ sở hạ tầng và hình thức lưu giữ, vận chuyển cho việc giao thương buôn bán hàng thủy sản;
7. Khảo sát đánh giá một cách toàn diện nhu cầu phát triển nguồn nhân lực cho công tác xúc tiến thương mại sản phẩm thủy sản.
8. Đánh giá toàn diện năng lực của các cơ sở, tổ chức và cơ quan chuyên ngành thực thi công tác đào tạo cán bộ cho xúc tiến thương mại thủy sản
9. Khảo sát đánh giá các hoạt động thông tin, đào tạo, quảng bá đối với hàng thủy sản tiêu thụ nội địa.
Các hoạt động trên đây sẽ được thực hiện độc lập hoặc phối hợp với nhau nhằm nghiên cứu một cách toàn diện, cơ bản và chi tiết tình trạng thị trường và giao lưu, buôn bán hàng thủy sản. Những đánh giá mang tính định lượng là rất quan trọng và cơ bản để tăng sự hiểu biết về chức năng của hệ thống thương mại và thị trường đối với sản phẩm hàng hóa thủy sản, từ đó đề ra những chiến lược xúc tiến thương mại một cách đúng đắn.
Dự án này yêu cầu phải được thực hiện càng sớm càng tốt khi các bước chuẩn bị thực thi đề án xúc tiến thương mại sẽ bắt đầu theo khả năng sớm nhất. Do đó, các hoạt động của dự án này cần được hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước.
Dự án 5: Xây dựng các Trung tâm thương mại thủy sản, Hội chợ triển lãm, Trung tâm tổ chức hội nghị và sự kiện, sàn giao dịch hàng thủy sản tiêu thụ nội địa; Tạo điều kiện cho người sản xuất, các tổ chức hiệp hội, hợp tác xã tham gia các hội chợ triển lãm hàng thủy sản, thực phẩm; Kết hợp với xúc tiến du lịch xây dựng các trung tâm du lịch về sản phẩm thủy sản truyền thống của từng vùng miền
Mục tiêu cơ bản và yếu tố chiến lược trong chương trình phát triển thủy sản là làm thế nào tiếp tục phát triển bền vững ngành thủy sản như một trong những sinh kế cơ bản tạo ra công ăn việc là và đem lại thu nhập, một nguồn cung cấp dinh dưỡng, một nguồn thu nhập ngoại tệ lớn, một thành phần trong cơ cấu kinh tế cơ bản của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam. Ngành thủy sản chỉ phát triển tốt khi có thị trường rộng lớn vì thị trường là động lực cho sự phát triển.
Tình hình phân tán của nghề cá Việt Nam với quy mô nhỏ lẻ gây ra những khó khăn cho việc tiến hành thương mại hàng hóa thủy sản. Sự hạn chế của cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông, hệ thống bến cảng cá, hệ thống chợ và cửa hàng chuyên bán hàng thủy sản và các phương tiện vận tải, lưu trữ chuyên dụng cũng gây ra những khó khăn cho việc thương mại các hàng hóa thủy sản. Do đó cần phải hỗ trợ cho các cảng bến cá tập trung hình thành các chợ đấu giá và bán buôn, các kho lạnh tàng trữ, các khu vực lưu giữ thủy sản nuôi trồng thủy sản tươi sống tập trung thuận tiện cho việc thu hoạch và vận chuyển đi xa, giảm các đầu mối thu mua phân tán, tình trạng manh mún, thiết lập sự cạnh tranh cần thiết cũng như cung cấp thông tin giá cả một cách có hiệu quả. Sự tập trung thu mua phân phối ở các tụ điểm nghề cá cũng cần thiết để tăng cường kết hợp các loại dịch vụ với các kho lạnh, “ao-kho hàng” chứa công nghiệp lưu giữ, điều tiết mùa vụ và thời tiết, đảm bảo nhịp độ phân phối hàng thủy sản quanh năm.
Mục tiêu cụ thể của dự án này là quy hoạch và thiết lập mạng lưới các khu vực mua bán, phân phối sản phẩm thủy sản để những người bán có thể thực hiện các công việc kinh doanh của họ, những người mua và người tiêu dùng có thể tiếp cận được với mọi sản phẩm thủy sản. Họ mong muốn có trong điều kiện văn minh, thuận lợi và vệ sinh an toàn thực phẩm
Một mạng lưới các trung tâm thương mại và các hoạt động của các chợ cá sẽ được hỗ trợ xây dựng và được quy hoạch phát triển theo phân bố mang tính chiến lược trong mối quan hệ với các cảng, các đầu mối giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy, đôi khi cả đường hàng không. Các bến cá và chợ cá nhỏ bé, phân tán được trợ giúp để chuyển sản phẩm tới các trung tâm lớn hơn cho kênh phân phối cấp 2 hoặc cho kênh chế biến để phân phối buôn bán lẻ.
Trong nội dung xúc tiến thương mại thủy sản nội địa, việc tăng cường hạ tầng cho các cơ sở kinh doanh thủy sản bán buôn, bán lẻ là rất cần thiết, kể cả các công trình văn minh và cải tiến các điều kiện vệ sinh, an toàn vệ sinh thực phẩm. Đây cũng là một mục tiêu chiến lược đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm quốc gia. Đây là yếu tố quan trọng để tạo niềm tin và yêu thích cho việc sử dụng và tiêu thụ hàng thủy sản.
Cũng cần phải hỗ trợ để phát triển các hàng thủy sản chế biến truyền thống đặc trưng mang tính dân tộc, phù hợp với thị hiếu và khẩu vị tiêu dùng của người Việt Nam trên cơ sở nỗ lực cải tiến và hiện đại hóa các quy trình và công nghệ chế biến, nâng cấp chất lượng. Những hệ thống và thủ tục đảm bảo chất lượng các sản phẩm thủy sản chế biến theo cách truyền thống cũng phải được đảm bảo theo các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm một cách tương ứng nhằm làm cho các sản phẩm này đạt trình độ tin cậy và thẩm mỹ cao với người tiêu dùng, do đó các hoạt động chuẩn hóa chất lượng và độ an toàn thực phẩm đối với các hàng thủy sản tiêu thụ nội địa cũng trở thành đối tượng được xúc tiến thương mại coi là một nội dung chính yếu.
Như vậy, thông qua dự án này các chính quyền địa phương sẽ được trợ giúp để nâng cấp các cơ sở kinh doanh thủy sản tại các chợ cá thông qua việc hỗ trợ nghiên cứu và giúp xây dựng các cơ sở vật chất cần thiết để người cung cấp và buôn bán sản phẩm thủy sản thuộc khu vực hợp tác xã và tư nhân thực hiện việc kinh doanh của họ một cách văn minh, đảm bảo vệ sinh và hiệu quả.
Bên cạnh việc hỗ trợ xây dựng và nâng cấp các thiết bị kinh doanh sản phẩm thủy sản tại các chợ cá, bến cá và trung tâm tiêu thụ cần hỗ trợ cải cách hệ thống kinh doanh thủy sản truyền thống, thay thế dần hệ thống kinh doanh thủy sản dựa trên hợp đồng và thoả thuận trực tiếp bằng hệ thống sàn giao dịch, bán đấu giá tự do và cạnh tranh ở tất cả các tụ điểm bán buôn làm cho chuỗi giá trị và giao thương hàng thủy sản trở nên hiệu quả hơn.
Điều tất yếu, những yêu cầu về phát triển cơ sở hạ tầng cơ bản như đường xá, bến cá, chợ cá, tàu hỏa chuyên dụng vận tải hàng thủy sản,... phải trông đợi từ ngân sách của Nhà nước. Các cơ sở sản xuất và kinh doanh đòi hỏi từ đầu tư tư nhân. Quỹ hỗ trợ xúc tiến thương mại ở đây chỉ có thể trợ giúp về trang bị mô hình mang tính thí điểm và trợ giúp một phần cho người buôn bán nhỏ quy tụ trong các hình thức hợp tác hoặc hiệp hội ngành hàng.
Dự án 6: Hỗ trợ việc xây dựng và quảng bá thương hiệu, miễn trừ phí đăng ký bản quyền đối với sản phẩm thủy sản tiêu dùng trên thị trường nội địa
Xây dựng thương hiệu hàng thủy sản nội địa là một quá trình nâng cao giá trị của các tổ chức, sản phẩm, dịch vụ sản xuất, cung ứng hàng thủy sản, làm cho nổi tiếng hơn, được mọi người mọi nơi biết đến, nhất là được nhiều người tiêu dùng biết đến hơn, tạo được dấu ấn mạnh mẽ trong tâm trí người tiêu dùng.
Thực tế chứng minh, các doanh nghiệp có sở hữu thương hiệu mạnh đã lôi cuốn được khách hàng sử dụng loại sản phẩm của mình, giúp họ giải quyết các vấn đề tiêu thụ và phổ cập sản phẩm của mình một cách đơn giản hơn, tiết kiệm hơn và họ đạt được mục tiêu ổn định hơn trong sản xuất kinh doanh các mặt hàng của họ. Dưới đây là những lý do quan trọng đối với việc xúc tiến thương mại đối với hàng hóa thủy sản tiêu thụ nội địa:
 Thu hút và lôi cuốn người tiêu dùng ở mọi miền;
 Tạo nội lực cho loại hàng hóa sản phẩm thủy sản;
 Tạo sự tin tưởng và đồng lòng cổ đông, quảng bá cho sản phẩm;
 Tạo sức hấp dẫn với các đối tác kinh doanh bán buôn, bán lẻ.
 Bán được nhiều sản phẩm, tăng thu dịch vụ hơn.
 Bán với giá cao hơn.
 Tăng lòng trung thành của khách hàng đối với thương hiệu.
 Dễ dàng vượt qua các rủi ro phát sinh trong kinh doanh.
Mục tiêu của dự án này là trợ giúp cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng thủy sản nội địa truyền thống xây dựng được các thương hiệu có bản quyền và phát triển ổn định.
Cần có các hoạt động hỗ trợ xây dựng thương hiệu ở tất cả các giai đoạn sau đây:
 Giai đoạn Mục tiêu Hoạt động cần thực hiện Kết quả
Nghiên cứu hiện trạng & xác lập tiêu chí Giúp xác định hiện trạng xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp, đặt ra đích đến của quá trình xây dựng thương hiệu.
 • Trao đổi với lãnh đạo doanh nghiệp.
• Nghiên cứu tài liệu marketing
• Xem xét định hướng kinh doanh
• Tiếp xúc khách hàng
• Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh
• Phân tích ngành hàng -  Báo cáo đánh giá hiện trạng thương hiệu
-  Xây dựng tầm nhìn thương hiệu (tuyên bố về sứ mệnh, tầm nhìn, mục tiêu kinh doanh, giá trị cốt lõi, bản định vị thương hiệu …).
• -   Bảng tiêu chí các yếu tố nền tảng của thương hiệu (thông điệp hình ảnh, thông điệp ngôn ngữ, định hướng sáng tạo tên, logo, hệ thống nhận diện
Sáng tạo thương hiệu 
- Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu đồng bộ và nhất quán với các tiêu chí đã được xác định trong giai đoạn trên.
 -  Liệt kê các quy trình công nghệ và các hồ sơ kèm theo.
 
-  Hồ sơ quản trị nhận diện thương hiệu (Brand Guidelines)
Giải pháp truyền thông thương hiệu Giúp doanh nghiệp quản trị thương hiệu một cách nhất quán và hiệu quả.
 
- Tư vấn thường xuyên về quản trị thương hiệu
-  Đào tạo quản trị thương hiệu
-  Quản lý các hoạt động quảng bá thương hiệu (sự kiện, in ấn, sản xuất vật phẩm quảng cáo …)

- Thực hiện các hoạt động hoặc chiến dịch theo yêu cầu cụ thể.
Dự án này nên được thực hiện thông qua các công ty tư vấn chuyên trợ giúp xây dựng thương hiệu thực hiện.
Dự án 7: Xây dựng, đào tạo nâng cao năng lực xúc tiến thương mại cho cán bộ các cơ quan xúc tiến thương mại địa phương, các hiệp hội ngành hàng; tăng cường kỹ năng tiếp thị, bán hàng của doanh nghiệp. Đào tạo nâng cao năng lực và kỹ năng kinh doanh hàng thủy sản nội địa cho thương nhân, doanh nghiệp
Để thực hiện tăng cường thể chế và xây dựng năng lực cần thiết cho các cơ quan có chức năng về thương mại thủy sản hàng nội địa cần thiết lập và mở rộng khả năng hiểu biết thị trường và phổ biến thông tin. Nhận thức về xúc tiến thương mại cũng như sự hiểu biết về thương mại và thị trường thủy sản được nâng cao là vô cùng cần thiết cho tất cả các hoạt động quy hoạch và nỗ lực phát triển của ngành thủy sản.
Mục tiêu của dự án này là trợ giúp phát triển nguồn nhân lực cho việc xúc tiến thương mại hàng thủy sản nói chung và sản phẩm thủy sản tiêu thụ nội địa nói riêng.
Cần xây dựng đào tạo một đội ngũ những người làm công tác xúc tiến thương mại hàng thủy sản có tính chuyên sâu cả về nghiệp vụ, trình độ và kỹ năng để hỗ trợ đưa vào áp dụng các phương thức hiện đại, nghệ thuật quảng bá các sản phẩm thủy sản trên cơ sở những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại.
 Các hoạt động của dự án này gồm, nhưng không nhất thiết phải hạn chế trong:
- Huấn luyện và tập huấn về các thể chế, luật pháp về xúc tiến thương mại.
- Huấn luyện về khảo sát, đánh giá nhu cầu tiêu thụ hàng thủy sản.
 - Huấn luyện xây dựng những nguyên tắc và hướng dẫn xây dựng những kỹ năng và phát triển nguồn nhân lực cho việc thực hành xúc tiến thương mại hàng thủy sản.
 - Huấn luyện kỹ năng và tăng cường mức độ thành thạo cho những cơ quan và những người thực hành đánh giá, phân tích thị trường, đánh giá hoạt động kinh doanh hướng cơ hội đầu tư vào những lĩnh vực sản phẩm thủy sản có nhu cầu, hướng người tiêu dùng vào việc sử dụng các sản phẩm thủy sản mong muốn được phát triển.
 -  Nâng cao năng lực và trình độ kỹ năng của cơ quan và cá nhân soạn thảo các phương án xúc tiến thương mại hàng thủy sản.
 - Huấn luyện kỹ năng và mức độ thành thạo trong việc xây dựng các mối liên kết trong khai thác nguồn hàng thủy sản phục vụ cho các thị trường khác nhau.
 - Huấn luyện kỹ năng tổ chức khuyến mại và quảng cáo trên các thị trường thủy sản khác nhau.
- Tổ chức tập huấn nhắm nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác xúc tiên thương mại và bồi dưỡng kỹ năng tác nghiệp trong thương mại cho cán bộ quản lý và kinh doanh thương mại thủy sản.
- Huấn luyện nhằm tăng cường nhân lực cho các hoạt động thu hút sự trợ giúp tài chính và kỹ thuật trong nước và quốc tế cho công tác xúc tiến thương mại sản phẩm thủy sản.
Các hoạt động của dự án này là vô cùng cần thiết. Cần có sự giúp đỡ và trợ giúp quốc tế để tiến hành các hoạt động và thực hiện dự án phát triển nguồn nhân lực dưới nhiều hình thức khác nhau do các cơ quan tài trợ khác nhau cung cấp.
Cần phải ưu tiên cho việc tăng cường nguồn nhân lực cũng như duy trì năng lực xúc tiến thương mại các sản phẩm thủy sản. Hơn nữa, đòi hỏi phải xây dựng nhận thức chung về tầm quan trọng của nhu cầu một cách thường xuyên của xúc tiến thương mại cũng như sự cần thiết của tính chuyên nghiệp đối với công tác xúc tiến thương mại. 
Các hoạt động của dự án này có quy mô quốc gia, nó được thực hiện đối với bất kỳ một loại hình tổ chức nào từ các cơ quan quản lý thương mại thủy sản tới các doanh nghiệp và mạng lưới kinh doanh tư nhân.
Dự án 8: Thu thập và phân phối thông tin, ứng dụng công nghệ điện tử phân tích, xử lý, dự báo thông tin, nghiên cứu ứng dụng phát triển thương mại điện tử phục vụ trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng thủy sản tiêu thụ nội địa
Nhu cầu về thông tin là điều kiện tiên quyết đối với xúc tiến thương mại sản phẩm thủy sản. Chỉ khi mọi tầng lớp dân cư ở mọi vùng miền được tiếp cận thông tin đầy đủ về hàng hóa thủy sản một cách trung thực, đáng tin cậy thì mới có thể tạo được những bước đột phá về tiêu dùng, kinh doanh và từ đó thúc đẩy phát triển sản xuất thủy sản. 
Mục tiêu của dự án này là phát triển và tăng cường năng lực thể chế để đưa vào sử dụng và duy trì các hệ thống thu thập và truyền bá thông tin có hiệu quả về sản xuất, kinh doanh, thị trường, giá cả,... phục vụ cho việc xúc tiến thương mại hàng thủy sản tiêu thụ nội địa.
Quy mô và loại thông tin cần thu thập và phân phối thông tin phục vụ xúc tiến thương mại hàng thủy sản là rất rộng, bao gồm thị trường, thị hiếu tới khả năng sản xuất, cung cấp và phân phối. Nó bao trùm rất nhiều lĩnh vực, loại hình và mọi kiến thức từ sản xuất, chế biến, sử dụng, kinh doanh, lưu thông hàng hóa thủy sản; từ quy mô vùng miền, quốc gia tới doanh nghiệp và từng gia đình từ thói quen, truyền thống tới cách thức tiêu dùng mới hiện đại.
Các hoạt động của dự án này có thể đưa ra theo một hình thức logic như sau:
- Tiến hành đánh giá nhu cầu về thông tin cần cho xúc tiến thương mại thủy sản trên thị trường nội địa. Đồng thời, xác định nhu cầu về thông tin về sản xuất, cung ứng và tiêu thụ, tiêu dùng hàng thủy sản trong cả nước, các tầng lớp dân cư, từng địa phương, vùng miền và theo thời gian.
- Tổ chức học tập tham quan kinh nghiệm tổ chức xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế cho các tổ chức có chức năng thực hiện công tác xúc tiến thương mại và các doanh nghiệp.
- Tăng cường năng lực của các tổ chức, cơ quan có thể nghiên cứu thị trường và cung cấp thông tin về sản phẩm thủy sản như các trung tâm thông tin, các viện nghiên cứu liên quan, các cơ quan truyền thông, các tạp chí, báo chí, các cơ quan tuyên truyền,…
- Trang bị cho các tổ chức, cơ quan có chức năng xúc tiến thương mại đủ khả năng về cơ sở vật chất để ứng dụng công nghệ điện tử phân tích, xử lý, dự báo thông tin, nghiên cứu ứng dụng phát triển thương mại điện tử phục vụ trong lĩnh vực sản xuất, lưu thông hàng thủy sản tiêu thụ nội địa.
- Các chợ cá tại các bến cá cũng được trợ giúp các phương tiện thương mại và các hoạt động tiếp thị. Trong nội dung xúc tiến thương mại cũng cần lưu ý tới việc tạo lập một hệ thống thông tin thị trường cung cấp một cách tự do đến tận người sản xuất, những người kinh doanh, các cơ sở chế biến và người tiêu thụ.
Cần ưu tiên cho các hoạt động tăng cường năng lực và mở rộng các hệ thống hiện có và năng lực thu thập và phân phối thông tin. Đây là hoạt động cần được tiến hành ngay và cần có sự hỗ trợ của các cơ quan liên ngành khác nhau. Mối quan hệ quốc tế và quốc gia cũng là yếu tố quan trọng đối với dự án này. Tuy nhiên, mục tiêu chính là phải xây dựng được năng lực trong nước đủ mạnh về thông tin cho công tác xúc tiến thương mại thủy sản. 
  Dự án 9: Hỗ trợ đầu tư phát triển công nghiệp và làng nghề chế biến hàng thủy sản đặc trưng, truyền thống đặc sắc
Văn hóa ẩm thực thủy sản của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, có nhiều sản phẩm ẩm thực đặc sắc ở mỗi vùng miền được ưa thích không những đối với người trong nước mà còn với cả người nước ngoài. Tuy nhiên việc chế biến các sản phẩm này mang nhiều tính chất gia đình, thủ công do đó rất khó có thể phổ cập tiêu dùng cho mọi vùng, mọi miền, mọi tầng lớp dân cư, nhất là trong cuộc sống hiện đại, khi do tính chất công việc, khả năng thực hiện các công việc nội trợ ngày càng bị hạn chế.
Do đó, cần phải có công nghiệp chế biến hàng hóa thủy sản cho tiêu dùng nội địa phát triển. Nền công nghiệp này phải thực hiện được nhiệm vụ công nghiệp hóa để cung cấp hàng loạt các sản phẩm thủy sản mang tính đặc thù, phù hợp với khẩu vị của người Việt, trên cơ sở ẩm thực truyền thống, tạo ra các sản phảm truyền thống có chất lượng cao, được bao gói thuận tiện và chuẩn bị thuận tiện sẵn sàng để nấu nướng hoặc ăn liền.    
Trên cơ sở đánh giá xác định cách tốt nhất nhằm cải thiện hệ thống kinh doanh thủy sản tươi sống, bao gồm tất cả các khâu của hệ thống thị trường từ người sản xuất đến người tiêu dùng (khai thác, nuôi trồng, lưu giữ, vận chuyển, nuôi giữ tại cửa hàng, bao bì, đóng gói,...). Quan trọng đặc biệt nhằm vào sự thiết lập hệ thống kinh doanh và thu mua thủy sản tươi sống ở vùng nông thôn (nơi chiếm tới 70% dân số ở nước ta) để tăng tiềm năng đóng góp của nông dân và khu vực nông thôn vào phát triển và tăng trưởng kinh tế thuỷ sản nói riêng cũng như kinh tế nông thôn nói chung cũng như xóa dần những khoảng cách giữa thành thị và nông thôn trong việc tiêu dùng sản phẩm thủy sản.
Dự án này có thể bao gồm, nhưng không chỉ hạn chế với các hoạt động sau đây:
• Nghiên cứu công nghiệp hóa và công nghệ bảo quản, vận chuyển thủy sản sống đường xa.
• Nghiên cứu các phương tiện chuyên dụng vận chuyển thủy sản sống (bằng đường sát, đường sông, đường bộ).
• Nghiên cứu các công nghệ và thiết bị bảo quản cá sống trong các trung tâm bán lẻ.
• Nghiên cứu công nghiệp hóa và công nghệ chế biến các sản phẩm kho, nướng thủy sản truyền thống bằng trấu và than củi, các sản phẩm hun khói.
• Nghiên cứu công nghiệp hóa và công nghệ chế biến các loại mắm đặc sắc trong ẩm thực của người Việt như mắm tép chưng thịt, mắm cá trèn, mắm cá linh, mắm cá lóc, mắm rươi, mắm cáy...
• Nghiên cứu công nghiệp hóa và công nghệ chế biến các loai thủy sản khô ăn liền, khô làm gia vị như bột tôm, bột rươi, bột sá sùng, bột cua, cá khô ngâm tẩm ăn liền cá nước ngọt...
• Nghiên cứu sản xuất và lưu thông các sản phẩm thủy sản sẵn sàng cho nấu và ăn liền như nước cua đồng, khẩu phần canh chua cá, khẩu phần riêu cá, cá rán các loại,...
• Nghiên cứu phụ gia chế biến, hương liệu và cách khử mùi tanh, cách thức đóng gói bao bì, nhãn mác hàng hóa thủy sản phù hợp với thị hiếu tiêu dùng.
Dự án sẽ được thực hiện trong nhiều năm. Trách nhiệm thực hiện dự án này thuộc về chính quyền các địa phương với sự tham gia của các nhà kinh doanh thủy sản.
Dự án 10: Tuyên truyền, quảng bá về hàng thủy sản nội địa
Trong cơ chế thị trường, để mở rộng và đứng vững trong kinh doanh với mọi sản phẩm ngoài việc có chiến lược phát triển và sách lược kinh doanh đúng đắn còn phải có nghệ thuật kinh doanh, tiêu thụ và tổ chức tốt các dịch vụ. những dịch vụ đó là :
- Chào hàng (là phương pháp sử dụng cách thức chào hàng khác nhau như đưa hàng đến từng gia đình bán trực tiếp cho khách hàng, cả bán buôn, bán lẻ). Trong việc chào hàng các nhân viên chào hàng có vai trò rất lớn nên trong xúc tiến thương mại hàng thủy sản cần phải tuyển chọn và thường xuyên bồi dưỡng kiến thức chế biến thuỷ hải sản và để hướng dẫn cho bếp gia đình của người tiêu dùng.
- Quảng cáo (là nghệ thuật sử dụng các phương tiện truyền thông, đưa thông tin về sản phẩm hàng hóa dịch vụ cho người tiêu dùng). Có nhiều hình thức quảng cáo khác nhau như dùng các video clip, các buổi truyền hình dạy nấu ăn, kết hợp với tuyên truyền sức khỏe dinh dưỡng. Quảng cáo đòi hỏi phải dày công tư duy, có sáng tạo và vật chất, nhưng nó là hoạt động cần thiết không thể thiếu trong việc quảng bá bất kỳ sản phẩm thủy sản nào đối với thị trường nội địa. Tuy nhiên, quảng cáo về sản phẩm thủy sản, một loại thực phẩm liên quan đến đời sống và sức khỏe của nhân dân nên quảng cáo các loại hàng hóa thủy sản phải thiết thực, trung thực
- Chiêu hàng (là hình thức khuyến khích sử dụng sản phẩm hàng hóa). Các tổ chức bán buôn, bán lẻ sử dụng “phép chiêu hàng” đối với khách hàng của mình như cho nếm, tặng thêm sản phẩm hoặc trưng bày hàng hóa để khách có thể nhìn thấy và có điều kiện tìm hiểu, hỏi han về sản phẩm hàng hóa đó.
- Hội chợ: Tại đây, nơi trưng bày sản phẩm tập trung đông đảo nhất của rất nhiều doanh nghiệp. Hội chợ cũng là nơi gặp gỡ của những người sản xuất, nhà kinh doanh sản phẩm và nơi giao lưu giữa các giới kinh doanh với nhau. Mọi người đến với hội chợ, đặc biệt người tiêu dùng có thể thoả thích tham quan, tìm kiếm mặt hàng mới một cách dễ dàng nhất mà không mất nhiều thời gian, đồng thời có thể ký được ngay hợp đồng mua bán,...   
Mục tiêu của dự án này là giúp người sản xuất và kinh doanh sản phẩm thủy sản giới thiệu sản phẩm và hàng hóa của minh tới công chúng mục tiêu cũng như làm cho người tiêu dùng biết cách tìm đến, biết cách tiêu dùng sản phẩm thủy sản nhiều hơn.
  Những hoạt động chủ yếu của dự án này là :
• Trợ giúp cho các doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên thị trường nội địa xác định đối tượng truyền thông, quảng bá sản phẩm của mình một cách hữu hiệu.
• Trợ giúp cho các doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thủy sản trên thị trường nội địa xác định cách thức, thời điểm truyền thông, lựa chọn phương tiện truyền thông và hình thức thông điệp truyền thông, quảng bá sản phẩm của mình.
• Trợ giúp tài chính cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sản phẩm thủy sản để họ thực hiện được các hoạt động quảng cáo, tham gia hội chợ các sản phẩm thủy sản. 
Dự án này được thực hiện hàng năm, ngân sách thực hiện các hoạt động của dự án này lấy từ quỹ xúc tiến thương mại. Việc xét chọn các sản phẩm được trợ giúp quảng bá sẽ do một hội đồng quốc gia do Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Công  thương thực hiện hàng năm.