Số 03-2011

CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA NƯỚC SẠCH VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NÔNG THÔN: KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2006-2010 VÀ ĐỊNH HƯỚNG 2011-2015
Bản tin chuyên đề/Phần I
A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN GIAI ĐOẠN 2006-2010 / IV. NHỮNG TỒN TẠI CẦN KHẮC PHỤC

Thứ Ba, 13/12/2011, 10:57 (GMT+7)

1. Công tác tổ chức, chỉ đạo.

Một số địa phương do chưa quan tâm làm tốt công tác chỉ đạo điều hành chương trình nên sự phối hợp và chỉ đạo của các Sở, Ban, ngành liên quan nhất là 3 ngành Nông nghiệp & PTNT, Y tế, Giáo dục & ĐT chưa chủ động và chưa chặt chẽ từ khâu xây dựng và phân bổ kế hoạch, tổ chức thực hiện, theo dõi đánh giá.

Chức năng quản lý nhà nước về nước sạch & VSMTNT ở cấp tỉnh, huyện chưa rõ ràng, còn chồng chéo và chưa thực hiện theo Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV ngày 15 tháng 5 năm 2008 của Bộ Nông nghiệp & PTNT và Bộ Nội vụ... Do vậy, nhiều địa phương cơ quan được giao đầu mối chủ trì chưa tổng hợp được đầy đủ tình hình.

Công tác xã hội hoá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã được đề cập từ giai đoạn 1, nhưng quá trình chỉ đạo thực hiện Chương trình trong giai đoạn 2006 -2010 vẫn ở mức rất hạn chế, chậm ban hành văn bản hướng dẫn các địa phương thực hiện xã hội hóa.

            Việc phân cấp tổ chức thực hiện Chương trình gặp nhiều khó khăn, năng lực tổ chức thực hiện Chương trình tuyến huyện, xã còn hạn chế, kết quả thấp. ở một số địa phương phân cấp không đạt kết quả lại quay lại phương thức cũ.

2. Xây dựng và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật.

             Do Chương trình NS &VSMTNT vừa mang tính kỹ thuật, kinh tế - xã hội và chịu nhiều ảnh hưởng của đặc điểm vùng miền nên nhiều văn bản chỉ có thể quy định khung chung, nhưng việc vận dụng văn bản pháp quy vào điều kiện cụ thể của các tỉnh chưa linh hoạt, sáng tạo.

            Công tác triển khai thực hiện các văn bản pháp quy nhìn chung còn chậm so với quy định, khi phát hiện những nội dung của các văn bản không phù hợp, việc điều chỉnh chưa kịp thời.    

3. Lập kế hoạch, xây dựng và quản lý xây dựng công trình.

            Công tác quy hoạch NS & VSMTNT nhiều địa phương chưa cập nhật đầy đủ, kịp thời, chưa quan tâm đến ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. Chất lượng và quản lý quy hoạch còn hạn chế và chưa sát thực tế, chưa đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi của Chương trình.

Việc lập kế hoạch, tổng hợp kế hoạch và thực hiện quy trình xây dựng  kế hoạch vẫn còn tư tưởng bao cấp, phân bổ từ trên xuống, người dân chưa được tham gia đầy đủ; công tác thông tin và lồng ghép giữa các Chương trình dự án trong khâu kế hoạch còn rất hạn chế.

            Công tác chuẩn bị đầu tư chậm; báo cáo đầu tư, khảo sát thiết kế chưa đảm bảo chất lượng, đặc biệt còn coi nhẹ công tác chuẩn bị đầu tư nhất là công tác khảo sát ...  

            4. Mục tiêu mỗi hộ gia đình có một nhà tiêu hợp vệ sinh còn hạn chế:

 Nhận thức và hành vi của người dân sử dụng nhà tiêu hộ gia đình còn hạn chế, vẫn còn khoảng 23% số hộ dân nông thôn không có nhà tiêu, khoảng một phần ba số hộ có nhà tiêu HVS nhưng sử dụng và bảo quản không đúng quy định trong Quyết định số 08/2005/QĐ-BYT.

Chậm hướng dẫn đa dạng các loại công nghệ nhà tiêu chi phí thấp trong khi các hộ gia đình nghèo khó có khả năng đáp ứng trong khi chính các đối tượng này thường là các hộ không có nhà tiêu hợp vệ sinh.

Công việc tư vấn, hướng dẫn cho các hộ gia đình xây dựng và sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh chưa đầy đủ; thiếu sự hướng dẫn, giám sát, nên nhiều công trình vệ sinh chưa đảm bảo chất lượng, không đúng quy cách.

Việc quản lý và sử dụng công trình vệ sinh tại các trường học, trạm y tế, chợ gặp nhiều khó khăn. Vẫn còn công trình vệ sinh đã được xây dựng nhưng đóng cửa không sử dụng. Một số công trình bị hư hỏng thiếu kinh phí sửa chữa.

5. Nguy cơ về ô nhiễm môi trường khu vực nông thôn ngày càng tăng:

Cùng với sự phát triển kinh tế nhanh, chất lượng cuộc sống người dân nông thôn tăng cao, kéo theo chất thải sinh hoạt ngày càng nhiều;  Theo kết quả điều tra năm 2007, mới có 85,7% số thị trấn và 28,5% số xã có tổ thu gom rác thải. Hoạt động của các tổ thu gom rác thải không thường xuyên, số lần thu gom rác thải ở cấp xã 0,5-2 lần/tuần, đối với các thị trấn từ 2-6 lần/tuần dẫn đến tình trạng cả những địa phương đã có tổ thu gom thì tỷ lệ rác thải được thu gom cũng rất thấp và tình trạng ứ đọng rác trong khu dân cư vẫn là phổ biến.

Tình trạng sử dụng phân người và gia súc chưa được xử lý an toàn để bón ruộng, nuôi cá vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn, phát tán mầm bệnh ra môi trường, nguy cơ phát triển thành dịch.

  6. Quản lý, khai thác và sử dụng công trình sau đầu tư.

Vẫn còn một số mô hình và cơ chế quản lý khai thác công trình cấp nước tập trung chưa hiệu quả và thiếu bền vững. Phương thức hoạt động cơ bản vẫn mang tính phục vụ, chưa chuyển được sang phương thức dịch vụ, thị trường hàng hóa.

Việc lựa chọn mô hình quản lý nhiều nơi chưa phù hợp, còn tồn tại nhiều mô hình quản lý thiếu tính chuyên nghiệp, như mô hình UBND xã, cộng đồng, tổ hợp tác quản lý. Năng lực cán bộ, công nhân quản lý vận hành còn yếu. Nhiều địa phương chưa ban hành quy chế quản lý vận hành, bảo dưỡng công trình cấp nước tập trung.

7. Khoa học và công nghệ.

Việc triển khai các chương trình nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ chậm. Còn thiếu và chậm đưa ra các hướng dẫn và triển khai rộng các mô hình công nghệ cấp nước qui mô hộ gia đình, mô hình nhà tiêu hợp vệ sinh giá rẻ phù hợp với những vùng sâu, vùng nghèo; các mô hình công nghệ phù hợp cấp nước vùng khan hiếm nguồn nước; công nghệ xử lý và cấp nước cho vùng biển đảo....

8. Huy động vốn.

- Nguồn vốn ngân sách trung ương chưa đủ so với quyết định phê duyệt Chương trình của Thủ tướng Chính phủ, nhiều địa phương chưa bố trí ngân sách địa phương cho Chương trình.

- Việc phân bổ vốn còn chưa hợp lý:

   + Cơ cấu vốn bố trí còn nặng về đầu tư, thiếu quan tâm về vốn sự nghiệp; nặng mục tiêu cấp nước, nhẹ về mục tiêu vệ sinh môi trường; 

   + Cơ chế lồng ghép giữa các chương trình, dự án có cùng mục tiêu trên cùng địa bàn còn rất hạn chế và chưa hiệu quả.

   + Nguồn tín dụng ưu đãi chiếm vị trí quan trọng nhưng lãi suất ưu đãi lại không ổn định (lúc đầu 0,5%/ tháng nhưng nay lại là 0,9%/tháng); mức cho vay đối với một loại công trình đã quá thấp không phù hợp với tình hình giá cả hiện nay.

   + Chưa có cơ chế hỗ trợ cộng tác viên trong công tác truyền thông viêc xây dựng nhà tiêu ở các hộ gia đình và các hoạt động thay đổi hành vi vệ sinh .

9. Công tác truyền thông.

- Vẫn còn một số địa phương và ngành chưa xây dựng kế hoạch truyền thông phù hợp với kế hoạch tổng thể truyền thông quốc gia về NS &VSMTNT.

- Tần suất các hoạt động truyền thông không đều và chưa thường xuyên, phần lớn hoạt động tập trung vào dịp Tuần lễ Quốc gia NS&VSMT, thời gian còn lại triển khai phân tán, thiếu hệ thống;

- Diện bao phủ các hoạt động IEC rất hạn chế. Ngoại trừ các chương trình trên truyền hình và đài phát thanh, đa số hoạt động IEC mới chỉ tập trung ở những xã, thôn có dự án xây dựng công trình cấp nước tập trung hoặc xây dựng nhà tiêu hộ gia đình mà không triển khai trên diện rộng do thiếu kinh phí và hạn chế về nguồn nhân lực.

- Thiếu cơ chế phù hợp trong việc phối hợp giữa các ngành, đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên trong triển khai các hoạt động tuyên truyền ...

 - Cộng tác viên cơ sở thiếu và yếu. ở cấp thôn, xóm không có đội ngũ cộng tác viên truyền thông về vệ sinh môi trường mà chỉ dựa vào các hoạt động lồng ghép của các hội, đoàn thể

- Hoạt động truyền thông trong trường học chủ yếu là tập huấn cho giáo viên, ít có các hoạt động đến học sinh, tại các trường có xây dựng công trình vệ sinh công tác truyền thông cũng chưa được quan tâm đúng mức.

10. Sự tham gia của cộng đồng     

Cộng đồng chủ động và đầy đủ các bước thực hiện Chương trình. Hầu hết kế hoạch xây dựng các công trình cấp nước tập trung vẫn được chỉ định từ cơ quan cấp trên. Cộng đồng chủ yếu chỉ được thông báo, tham gia đóng góp kinh phí; việc tham gia chủ động cũng như các hoạt động giám sát việc thực hiện của cộng đồng ở một số nơi làm còn chưa tốt.…